Hoạt động Kiểm tra “sức khỏe doanh nghiệp” luôn rất cần thiết khi Doanh nghiệp xây dựng kế hoạch kinh doanh hàng năm, khi định giá trị công ty nhằm phục vụ cho hoạt động M&A, huy động vốn, cổ phần hóa, phát hành cổ phiếu nội bộ…, và khi doanh nghiệp tiến hành tái cấu trúc và/hoặc xem xét và đánh giá lại chiến lược phát triển của mình.

“Những lỗi mà trước đây chỉ thỉnh thoảng mới xảy ra & gây gián đoạn trong sản xuất nay trở nên thường xuyên hơn, với mật độ cao hơn & điển hình hơn. Những sai sót về mặt chất lượng dẫn đến hàng tồn kho bị chất đống. Các khiếu nại của khách hàng trở nên thường xuyên hơn, doanh số không tăng nhưng biên lời gộp lại có dấu hiệu suy giảm. Việc suy giảm doanh số lặp lại qua nhiều tháng sau đó, tiền mặt thì trở nên eo hẹp, và tuy công ty vẫn thanh toán được các khoản tiền lương, nợ vay, nợ thuế… đến hạn, nhưng nợ của nhà cung cấp thì việc thanh toán có phần chậm trễ hơn…”
Một mô tả rất ngắn gọn giai đoạn “tiền khủng hoảng” điển hình của những Doanh nghiệp có “vấn đề”.
Một công ty đang thành công và nếu bị lâm nguy, hiếm khi đi ngay đến chỗ phá sản, mà thường phải trải qua nhiều giai đoạn khủng hoảng khác nhau trong những khoảng thời gian nhất định.
Một cảnh báo sớm và có hệ thống trên cơ sở một loạt những dấu hiệu bất ổn kể trên, sẽ giúp Ban giám đốc có những can thiệp kịp thời nhằm xử lý triệt để các vấn đề có thể ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nhưng vấn đề là Ban giám đốc không nhận ra, hoặc không muốn thừa nhận đó là các dấu hiệu bất ổn, do đó họ cũng không sẵn sàng thực thi ngay những biện pháp khẩn cấp nhằm đưa công ty quay trở lại đúng lộ trình mà nó phải đi.
“Nếu một việc có thể diễn tiến xấu, nó sẽ diễn ra đúng như thế”.
Quả thật, nếu chúng ta có cảm giác mọi việc dường như đang tiến triển rất tốt đẹp, thì chắc chắn chúng ta đã & đang bỏ qua điều gì đó rất nghiêm trọng.
Định luật Murphy
